Năm 1908, lằn ranh giữa sống chết tại vùng Tây Hoa Kỳ mỏng như lớp da rắn. Nắng sa mạc như búa tạ, giữa cái chảo thiêu đốt ấy, một toán người kỳ dị xiết chặt dây cương. Gió quật táp vào chiếc khăn choàng đỏ thẫm của lão cao bồi gân guốc – kẻ từng chứng kiến bốn đời ngựa chiến gục ngã dưới chân mình. Bên cạnh, hai cựu kỵ binh Rough Riders trao nhau điếu xì gà Cuba mồi lửa, vết sẹo dọc má người này vẫn đỏ lựng sau mười năm từ trận đồi San Juan. Đám bụi cát cuộn lên lộ ra bóng lưng gầy guộc của tay súng huyền thoại, khẩu Colt M1911 bên hông lên đạn sẵn sàng như chính con tim hắn. Xa hơn chút, gã quý tộc Anh vẫn cứ thẳng lưng trên yên ngựa tha ma, tay lau vệt máu khô dính trên ống tay áo satin – thứ trang phục chẳng mấy hợp thời giữa hoang mạc. Và người đàn bà đi sau cùng, quắc thước như dao găm, vòng bạc chạm vào sọ rắn đeo trước ngực leng keng mỗi lần phi nước kiệu. Cuộc đua 700 dặm xuyên sa mạc này không chỉ đo bằng sức ngựa. Đằng sau mỗi con người là giông bão riêng: kẻ truy đuổi ký ức chiến trường, người mỏi mòn tìm chốn quên, số khác chất trong mình một mối hận đẫm máu. Khi mặt trời lặn mất hút đằng sau rặng núi Skeleton, tiếng bầy chó hoang rú lên thảm thiết, lão cao bồi rít một hơi thuốc lá tự vấn rồi cắn đạn ngậm ở khoé môi: "Cứ thế này thì vài đứa sẽ chết sạch trước vạch đích. Nhưng được, máu tươi vẫn thơm hơn mồ hôi muối."