Gió Làng Kình Ở vùng châu thổ sông Hồng, nơi những cánh đồng lúa xen lẫn xưởng thủ công đan lát tre nứa, làng Kình đang lững lờ chuyển mình theo nhịp đô thị hóa. Những con đường đất đỏ ngoằn ngoèo dần nhường chỗ cho bê tông xám xịt, tiếng máy móc ầm ì át cả tiếng chim sẻ chiều tà. Dân làng Kình, xưa kia chỉ quen đôi bàn tay chai sạn với nan tre sợi cói, giờ bắt đầu mơ mộng về những chuyến xe tải chở sản phẩm ra tận Hà Nội, ra cảng Hải Phòng. Nhưng giấc mơ ấy bị chặn đứng bởi những bóng đen từ quá khứ. Năm 2004, ủy ban nhân dân xã Kình Hợp – tục gọi làng Kình – rục rịch tổ chức tuyển cử trưởng thôn. Đó không chỉ là một cuộc bỏ phiếu bình thường, mà là trận địa cho các thế lực thủ cựu trỗi dậy. Chúng, những kẻ từng nắm quyền từ thời bao cấp, giờ mưu toan kéo làng Kình lùi lại trong vòng xoáy trì trệ và ngu dốt. Chúng rêu rao rằng đô thị hóa chỉ mang đến hỗn loạn, rằng nghề thủ công truyền thống phải được giữ gìn bằng mọi giá, dù giá ấy là đánh đổi tương lai con cháu. Giữa không khí căng thẳng ấy, ông Phạm Khuếnh nổi lên như một ứng cử viên sáng giá. Với giọng nói trầm ấm, nụ cười thân thiện che đậy tham vọng, ông Khuếnh hứa hẹn sẽ bảo vệ "làng quê thuần khiết". Dân làng, mệt mỏi với những thay đổi chóng mặt, đổ phiếu cho ông mà không hay biết đang mở cửa cho bóng tối. Ngay khi nhậm chức, ông Khuếnh duỗi những chiếc vòi bạch tuộc thao túng quyền lực xó quê. Ông kiểm soát nguồn nước tưới tiêu bằng cách ưu ái ruộng đất nhà mình và vây cánh, ép nông dân phải nộp "phí bảo vệ" để máy bơm không đột ngột hỏng. Ông can thiệp vào hợp đồng thủ công, chỉ cho phép xưởng của "người thân quen" bán hàng ra ngoài, còn lại thì ứ đọng trong kho. Những khoản tiền "xã hội hóa" cho đường làng, cầu ao biến mất như gió thoảng, chỉ để lại những bữa nhậu say sưa ở nhà ông. Vô hình trung, ông Khuếnh biến những người nông phu chân lấm tay bùn thành phường uống máu không tanh: anh em ruột thịt quay sang tố cáo lẫn nhau để tranh miếng đất thừa kế, bạn bè xưa giờ cấu xé vì một chuyến hàng muộn, cả làng chìm trong những cuộc ẩu đả say rượu triền miên. Vây cánh ông Khuếnh càng khuếch trương, mọi thói hư tật xấu cố hữu vốn ngủ quên bao đời bỗng vùng dậy tàn hại biết bao phận người. Ông Ba Lò, từng là thợ đan lành nghề nhất làng, giờ nghiện cờ bạc dưới sự "chống lưng" của tay chân Khuếnh, bán cả ruộng để trả nợ. Chị Hai Thị, mẹ đơn thân nuôi ba đứa con bằng nghề đan giỏ, bị ép phải "góp phần" cho quỹ thôn, cuối cùng phải vay nặng lãi rồi sa vào đường cùng. Làng Kình như một cái ao tù đọng, nước đục ngầu, cá nhỏ bị nuốt chửng bởi những con cá dữ mập ú. Nhưng chính từ nỗi căm phẫn với những thủ đoạn ấy, đây đó dần mọc lên những con người biết hướng thiện và khuyến thiện. Ông Tư Sông, cựu chiến binh từng chứng kiến bao đổi thay, lặng lẽ tụ họp bà con ở sân đình, kể chuyện làng xưa để khơi dậy lòng tự trọng. Chị Lan Tre, cô giáo trẻ về làng dạy chữ, dùng những buổi học đêm để bàn cách chống tham nhũng. Anh Minh Đan, chủ xưởng nhỏ nhưng kiên quyết không nộp "phí", trở thành ngòi nổ cho những cuộc khiếu nại lên xã. Họ dần siết lại thành hàng ngũ, từ vài người thân cận lan ra hàng chục hộ dân. Họ thu thập chứng cứ, gửi đơn thư, thậm chí tổ chức biểu tình ôn hòa trước ủy ban xã. Những trận gió mới thổi qua làng Kình, cuốn phăng lớp bụi bẩn của bè lũ Khuếnh. Qua bao phen giông bão, hàng ngũ ấy chặn đứng âm mưu, lật đổ được ông Khuếnh và vây cánh sau cuộc kiểm tra từ huyện. Làng Kình trở lại yên vui, nghề thủ công hồi sinh với những hợp đồng mới, đường làng được lát sạch sẽ bằng tiền thật. Gió làng Kình giờ mang theo hơi thở tự do, thì thầm lời hứa về một tương lai sáng sủa hơn.