Từ thuở khai thiên lập địa, dãy núi Viên Hầu hùng vĩ đã sừng sững như bức tường thành chắn giữa mây trời và thế gian phàm tục. Ngày tháng lắng đọng trong từng vách đá lởm chởm, trong tiếng suối thác gầm vang cả đêm ngày. Xưa nay kẻ trèo ngược đến đỉnh núi đều vắng bóng trở về, thế nên bụi cổ tích vẫn dày thêm lớp lớp quanh ngọn núi nhuốm màu linh dị.
Chốn sơn cùng thủy tận ấy có nước Viên bé nhỏ nằm vắt mình trên lưng núi. Triều đại này tiếp nối triều đại kia, nhân gian đồn đại chính tổ tiên nước Viên xưa từng lạc bước vào động tiên, được Viên Thần ban cho hạt giống ngọc thạch gieo xuống đất mà thành phủ thành rừng. Dân tứ phương quần tụ về, ngả nón trước tượng thạch tượng hình vượn trắng - vị thần núi miệng ngậm ánh trăng non. Người nước Viên tề tựu mỗi khi lửa trăng liềm le lói trên đỉnh thiên trụ, già trẻ như một xếp hàng dâng lễ vật: trái bách quả chín mọng, chén máu hươu tinh khiết để cầu thần tiên giáng phúc.
Viên Sơn Dị Văn Lục - cuốn cổ thư tàng trong vách đá thâm u - có ghi lại tích rằng con bạch viên xuất thế trong đêm mưa sa chớp giật. Ấy là năm bảy bảy bốn mùa hạn, đất nứt toác miệng nuốt chửng sinh linh, bỗng đâu lũ quét tràn về như roi trời quất xuống. Người người bám víu hốc đá kêu khóc thì từ trong huyệt núi, một bóng trắng phát quang xé màn mưa mà vọt lên. Tương truyền vượn thần dùng hết sức lực ngăn đoạn hồng thủy, dòng chảy hóa thành suối nhỏ êm đềm chảy về chân đồi. Dấu chân thần in xuống nơi nào, liền mọc lên rừng trúc xanh biếc. Từ đấy, không ai dám hái lá ngọn chốn thiêng.
Thế nhưng câu chuyện linh thiêng xưa chợt rạn vỡ khi mười mùa trăng trôi qua. Trước tiên là giấc mộng kinh hoàng của tiểu hầu trong lễ cúng sao. Hắn kể lại thấy Viên Thần cầm bó đuốc hừng hực đốt bốn phương tám hướng, đôi mắt vàng rực phun ra ngọn lửa trừng phạt. Trí thức áo xanh chấp chới lên núi tìm tòi thì thảng thốt nhận ra một dải lông trắng khô xác trên đá run rẩy dưới cơn gió gào. Tiếng đồn đại như tro núi lửa bùng bay: "Thần bỏ ta rồi! Thần từ chối che chở nước Viên nữa rồi!".
Tai ương ập đến như trời giáng. Mạch nước ngầm co cụm chảy ngược về long mạch, ruộng đồng khô nẻ tiếng khóc vật vã. Thú rừng về thành phá phách canh két, có kẻ thề rằng ngửi thấy mùi hôi thối từ hang thần. Các cụ già lắc đầu khằn giọng: "Chẳng trách quốc chủ ngày một hao mòn!". Đức vua họ Lương bỗng dưng ngã bệnh mười ngày không dậy. Ngài khạc ra từng nắm máu đen đặc quánh, tứ chi nổi vằn lông trắng ngày một dài. Thầy lang khẽ liếc nhìn nhau - đúng thứ lông óng mượt như tuyết núi cao, y hệt lông vượn thần thuở nào. Cung tần thì thào: "Cổ nhân nói không sai - thần giận, vận nước suy".
Lời đồn sinh sôi ngoài tầm kiểm soát. Mươi nhóm người xô xát nhau ở giếng cạn cuối làng, đều tranh giành chút nước nhỏ nhoi cho con trẻ. Quân lính thay phiên gõ mõ canh miếu đền đã lơ đãng quay lưng khỏi bệ tượng thần. Kinh đô nhỏ chìm trong bữa tối im lìm không đèn lửa, bóng loáng người âm thầm gói ghém đồ đạc toan bỏ trốn. Những đêm không trăng, tiếng khóc thương tang thắt từ hoàng thành xé lòng người qua cửa sập then cài.
Viên Sơn Dị Văn Lục vẫn mở trang cuối giữa đống lễ vật khô héo. Chữ nghĩa mờ tỏ trên da thú hoang: "Có ai chạm đến điều cấm kỵ?". Ngẩn ngơ cùng câu hỏi ấy, vị quan coi miếu khẽ nhặt cánh hồng hoa rụng đẫm buồn trên nền gạch nứt toác. Lẽ nào họ đã lỡ làm ô uế điều gì, hay bí mật đằng sau nhọc bệnh của quân vương còn kinh hãi hơn cả lời đồn đang len qua khe cửa?